TÊN HUYỆT: TRUNG PHỦ
TÊN GỌI & Ý NGHĨA:
- Hán Việt: 中府穴 (Trung Phủ)
- Âm Hán Ngữ: zhōngfǔ (LU 1)
- Giải thích tên gọi: “中” chỉ “giữa, trung gian”; “府” nghĩa là “nơi hội tụ, nơi trú” — vì huyệt là nơi khí của phế tập trung.
ĐẶC ĐIỂM:
Là huyệt mộ của Kinh Thủ Thái Âm Phế
Cũng là hội (giao) huyệt giữa kinh phế và kinh tỳ
VỊ TRÍ:
Ở phần trên ngoài của thành trước ngực (lồng ngực), tại khoảng giữa xương sườn 1 và 2, cách đường giữa ngực 6 thốn.
Nằm dưới rìa ngoài đòn (xương đòn) và dưới hõm ổn đòn vai-ngực (clavicular region), phần trên ngực ngoài.
Lấy huyệt: tư thế người bệnh ngồi hoặc nằm ngửa, hai tay chống hông để xác định hõm đòn-ngực, từ đó đo ra hoặc theo vị trí đặc trưng.

CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ:
- Tuyên phế giáng khí, hóa đàm, thanh phế nhiệt, trị ho.
- Khơi thông ngực, khai khai (mở) vùng ngực – giúp khí phế xuôi xuống, giảm cảm giác ngực đầy bức, khó thở.
- Giảm đau vai-lưng, vùng ngực – do huyệt nằm ở vùng ngực bên và liên quan đến cơ vai, dây thần kinh vai.
- Hỗ trợ tuần hoàn bạch huyết – ứng dụng trong làm đẹp, chăm da: vì phế chủ da lông, thông phế khí giúp da khỏe.
- Hỗ trợ các bệnh đường hô hấp mạn tính, ví dụ viêm phế quản mạn, hen suyễn, lao phổi, …
- Lợi thủy, kiện tỳ – vì huyệt là giao hội giữa Kinh Phế và Kinh Tỳ nên có tác dụng điều hòa vận hóa thủy thấp và hỗ trợ chức năng tiêu hóa, giúp cải thiện các chứng phù mặt do thủy ứ, nôn ói, ăn uống khó tiêu, đầy bụng, trướng bụng và các rối loạn tiêu hóa liên quan đến tỳ khí hư hoặc vận hóa kém.
CÁCH CHÂM: Châm xiên (tà châm) hướng ra phía ngoài (mặt bên) ngực, sâu 0,5 – 0,7 thốn.
Cảnh báo: Do nằm gần khoang lồng ngực (đặc biệt khe sườn 1) nên khi châm nếu sâu hoặc hướng không đúng có nguy cơ dẫn tới tổn thương màng phổi hoặc phổi.