Huyệt Lao Cung (勞宮穴)

Ý nghĩa tên gọi: Lao trong lao động (nghĩa là bàn tay để làm việc). Cung (như cung đình) nghĩa là nhà lớn. Huyệt nằm giữa lòng bàn tay nên được ví như cung. Vì thế tên huyệt là Lao Cung.

Tên gọi khác (nếu có): Chưởng Trung, Quỷ Lộ, Quỷ Quật

Đặc điểm:

  • Thuộc kinh Quyết âm tâm bào;
  • Là Vinh huyệt, thuộc hành Hỏa, nơi nhiệt tâm khí phát ra thực hiện công phu chưởng công (nên còn có tên Chưởng Trung);
  • Là một trong chín huyệt Hồi dương cứu nghịch;
  • Là một trong “Thập tam Quỷ huyệt” trị bệnh tâm thần (nên còn có tên Quỷ quật).

Vị trí:

  • Ở giữa lòng bàn tay, nơi trũng nhất giữa hai đầu mút ngón 3 & 4 (ngón giữa và áp út, nhưng gần ngón út hơn) khi gấp các ngón tay lại;
  • Gấp ngón tay giữa lại, đầu mút chạm vào đường nếp gấp giữa lòng bàn tay (thường là khoảng giao giữa đường trí đạo và đường mạng đạo).

Cấu trúc giải phẫu bên dưới:

  • Lớp nông: vùng này có các nhánh gan ngón tay của thần kinh giữa (median nerve) chi phối cảm giác.
  • Lớp sâu hơn: có sự tham gia của nhánh sâu thần kinh trụ (ulnar nerve), đặc biệt là các sợi chi phối cơ khép ngón cái (adductor pollicis).
  • Do đó, khi tác động vào huyệt Lao Cung, đồng thời có thể ảnh hưởng đến cả đường dẫn truyền thần kinh giữa và thần kinh trụ, vừa trên phương diện cảm giác vừa trên phương diện vận động.

Ý nghĩa lâm sàng:
Sự phân bố thần kinh kép này giúp giải thích vì sao huyệt Lao Cung có tác dụng mạnh trong việc điều hòa hoạt động thần kinh, làm dịu thần trí, thanh tâm nhiệt, tỉnh ngất, đồng thời có thể ảnh hưởng đến tuần hoàn và chức năng cơ bàn tay.

Công dụng: Thanh tâm hỏa, an thần, trị thấp nhiệt, thanh được nhiệt ở vùng ngực và hoành cách mô, mở đường cho Tâm hỏa đi xuống.

Ứng dụng điều trị:

  • Hồi hộp, động kinh, bệnh tâm thần;
  • Vùng tim đau;
  • Ho gà;
  • Viêm miệng, loét miệng, viêm lợi, nấc cục;
  • Nhiễm độc da lòng bàn tay mãn tính, bàn tay bị nấm (eczema), trị mồ hôi tay;
  • Bứt rứt, phiền muộn, hay nôn mửa, nôn khan, ợ hơi, ợ chua, nóng mặt, chỉ thích nằm (phối với Túc tam lý)

Phối huyệt:

  • Phối huyệt Túc tam lý: chữa chứng khí trệ do lao động nặng nhọc gây ra (Lao động nặng nhọc gây khí trệ vì nó hao tổn chính khí, làm khí huyết sinh không kịp nhu cầu, cộng thêm co cứng cơ – đau nhức và sơ tiết Can mất điều hoà, khiến cho khí không còn vận hành thông suốt nữa.). Phối như vậy có tác dụng tả được hỏa của Tâm lẫn Vị, trấn được nhiệt khí từ dưới xung lên (theo Phối Huyệt Khái Luận Giảng Nghĩa)

Cách châm cứu:

  • Châm cứu: châm thẳng 0,3 – 0,5 thốn;
  • Cứu ngải: Cứu trong 5 – 10 phút (trong trường hợp có Hàn khí).

Chống chỉ định:

  • Phụ nữ mang thai vì có thể gây sẩy thai, sinh non, hoặc ảnh hưởng đến thai nhi (đặc biệt là trong tháng thứ 3 của thai kỳ);
  • Một số nguồn thông tin cho rằng không nên cứu ngải huyệt Lao cung vì vậy cũng nên thận trọng.