Trang chủ Kết quả tìm kiếm
Bài viết phân tích mối liên hệ ít ai biết giữa bệnh dạ dày và các rối loạn cơ xương vùng vai–tay, giải thích bằng cơ chế thần kinh và viêm toàn thân.
Ôn Lưu (LI-7, 溫溜) là huyệt Khích của kinh Đại Trường, nằm trên cẳng tay, cách huyệt Dương Khê (LI-5) 5 thốn, trên đường nối đến huyệt Khúc Trì (LI-11). Huyệt có tác dụng ôn kinh, hành khí, tán hàn, thường dùng trị viêm miệng, viêm lưỡi, viêm tuyến mang tai, bệnh tâm thần, sưng họng, đau răng và đau lưng – vai – cánh tay.
Huyệt Trung Phủ (LU-1) là Mộ huyệt của Phế, nằm ở phần ngực trên ngoài, có tác dụng tuyên phế, giáng khí, hóa đàm, mở ngực giảm khó thở và hỗ trợ điều trị các bệnh hô hấp, đồng thời điều hòa dịch thể và tăng cường sức khỏe của da.
Huyệt Vân Môn (LU-2) là huyệt thứ hai của kinh Thủ Thái Âm Phế, nằm ở hõm dưới đầu ngoài xương đòn, phía trên huyệt Trung Phủ (LU-1). Với vị trí thuộc vùng ngực trên và có mối liên hệ mật thiết với chức năng tuyên phát của Phế, huyệt giúp tuyên phế, giáng khí, làm giảm ho, khó thở, tức ngực và hỗ trợ khai thông khí phế. Khi được tác động đúng kỹ thuật, Vân Môn còn giúp giảm căng tức vùng vai trước, thư giãn cơ ngực – vai, cải thiện lưu thông khí huyết và hỗ trợ tốt cho các rối loạn hô hấp cũng như các chứng đau vùng vai – đòn.
Huyệt Thiên Phủ (LU 3) là huyệt Kinh của Kinh Thủ Thái Âm Phế, nằm ở mặt trước–ngoài cánh tay trên. Đây là nơi “thiên khí hội tụ”, giúp thanh Phế, giáng nghịch, điều hòa hô hấp và làm dịu các rối loạn tinh thần do Phế khí uất kết. Huyệt thường dùng trong điều trị ho, viêm họng, hen suyễn, khó thở, đau vai – cánh tay và các chứng nhiệt bốc đầu.
Huyệt Hiệp Bạch (LU-4) thuộc Kinh Thủ Thái Âm Phế, có tác dụng giáng Phế khí, thông ngực, điều hòa hô hấp và giảm đau vùng cánh tay trên. Huyệt thường được sử dụng trong các chứng ho, tức ngực, khó thở, hen suyễn, đồng thời hữu hiệu với đau cơ nhị đầu, đau lan từ vai xuống tay theo đường kinh Phế.