Trang chủ Tin tức Châm cứu - bấm huyệt Huyệt đạo
Huyệt Hiệp Bạch (LU-4) thuộc Kinh Thủ Thái Âm Phế, có tác dụng giáng Phế khí, thông ngực, điều hòa hô hấp và giảm đau vùng cánh tay trên. Huyệt thường được sử dụng trong các chứng ho, tức ngực, khó thở, hen suyễn, đồng thời hữu hiệu với đau cơ nhị đầu, đau lan từ vai xuống tay theo đường kinh Phế.
Huyệt Thiên Phủ (LU 3) là huyệt Kinh của Kinh Thủ Thái Âm Phế, nằm ở mặt trước–ngoài cánh tay trên. Đây là nơi “thiên khí hội tụ”, giúp thanh Phế, giáng nghịch, điều hòa hô hấp và làm dịu các rối loạn tinh thần do Phế khí uất kết. Huyệt thường dùng trong điều trị ho, viêm họng, hen suyễn, khó thở, đau vai – cánh tay và các chứng nhiệt bốc đầu.
Huyệt Vân Môn (LU-2) là huyệt thứ hai của kinh Thủ Thái Âm Phế, nằm ở hõm dưới đầu ngoài xương đòn, phía trên huyệt Trung Phủ (LU-1). Với vị trí thuộc vùng ngực trên và có mối liên hệ mật thiết với chức năng tuyên phát của Phế, huyệt giúp tuyên phế, giáng khí, làm giảm ho, khó thở, tức ngực và hỗ trợ khai thông khí phế. Khi được tác động đúng kỹ thuật, Vân Môn còn giúp giảm căng tức vùng vai trước, thư giãn cơ ngực – vai, cải thiện lưu thông khí huyết và hỗ trợ tốt cho các rối loạn hô hấp cũng như các chứng đau vùng vai – đòn.
Huyệt Trung Phủ (LU-1) là Mộ huyệt của Phế, nằm ở phần ngực trên ngoài, có tác dụng tuyên phế, giáng khí, hóa đàm, mở ngực giảm khó thở và hỗ trợ điều trị các bệnh hô hấp, đồng thời điều hòa dịch thể và tăng cường sức khỏe của da.
Xung Dương (ST-42, 冲阳) là Nguyên huyệt của kinh Túc Dương Minh Vị, nằm trên mu bàn chân giữa xương bàn 2 và 3, ngay trên động mạch mu chân. Huyệt có tác dụng hòa Vị, hóa thấp, an thần, thường dùng trị đau mu bàn chân, liệt chi dưới, đau răng, liệt mặt, động kinh và bệnh tâm thần.
Ôn Lưu (LI-7, 溫溜) là huyệt Khích của kinh Đại Trường, nằm trên cẳng tay, cách huyệt Dương Khê (LI-5) 5 thốn, trên đường nối đến huyệt Khúc Trì (LI-11). Huyệt có tác dụng ôn kinh, hành khí, tán hàn, thường dùng trị viêm miệng, viêm lưỡi, viêm tuyến mang tai, bệnh tâm thần, sưng họng, đau răng và đau lưng – vai – cánh tay.
Huyệt Lao Cung (PC8), còn gọi là Trung Chưởng, nằm giữa lòng bàn tay trên kinh Tâm bào. Đây là Vinh huyệt thuộc hành Hỏa, có tác dụng thanh tâm hỏa, an thần, tỉnh ngất, và được ứng dụng trong điều trị hồi hộp, động kinh, bệnh tâm thần, loét miệng, viêm lợi, nấc cục, chàm bàn tay và chứng ra mồ hôi tay.
Bài viết giới thiệu nguyên nhân, triệu chứng và các bộ huyệt điều trị dạ dày sa trong Đông y, giúp nâng dạ dày, cải thiện tiêu hóa và tăng cường sức khỏe.
Huyệt Phong Long (ST40) là huyệt vị chủ trị đàm trệ, kiện tỳ, tiêu thấp, hỗ trợ điều trị ho đờm, mất ngủ, lo âu, tiêu hóa kém và béo phì hiệu quả.